- Thầy giáo Lê Chấn Thi
Sinh thời, Tế
Hanh đã từng khẳng định: “Hãy đi con đường vào trái tim bạn đọc/Người ta có thể
quên tên người làm thơ, nhưng đừng để quên thơ” (Bài học nhỏ về nhà thơ lớn). Thấm thoát, ba năm trôi qua, bao mùa
trăng đầy rồi khuyết, Tế Hanh vĩnh viễn đi vào cõi tịch diệt, hồn phiêu bồng
cùng “sông nước của tình thương”, dẫu rằng thi nhân luôn đau đáu một niềm ao ước: “Tôi muốn viết những bài thơ dễ
hiểu/Như những lời mộc mạc trong ca dao” (Điệu
quê hương)
Xuất hiện ở chặng cuối của Phong trào Thơ mới, trải qua hơn sáu mươi năm cầm bút- không kể những công trình dịch thuật, những bài thơ viết cho thiếu nhi và những tập tiểu luận- Tế Hanh sáng tác hơn 17 tập thơ. Với sự nghiệp thơ ca như thế và cùng quan niệm nghệ thuật có nẻo đường riêng, Tế Hanh được công chúng đánh giá là một nhà thơ lớn của thơ ca hiện đại Việt Nam. Chính ông, trong bài viết Mấy suy nghĩ về thơ ra ngày 4/9/1995, đã tâm sự: “Bây giờ tôi đã 75 tuổi, nếu tính theo chu kì từ 60 đến 80 tuổi nghĩa là trong những năm cuối thế kỉ 20, tôi cố gắng có một mùa thơ mới nữa. Nhưng đó chỉ là ước mơ, thực hiện được ước mơ ấy không phải dễ vì sự sáng tạo về nghệ thuật không phải chỉ do ý muốn chủ quan mà có được”. Suy nghĩ về thơ nhưng đó cũng là một dự báo, một nỗi niềm ao ước khó thỏa của hồn thơ nặng tình với quê hương, đất nước, với tình đời và luôn sống trong tâm trạng nhớ thương, khao khát vì cách xa…
Xuất hiện ở chặng cuối của Phong trào Thơ mới, trải qua hơn sáu mươi năm cầm bút- không kể những công trình dịch thuật, những bài thơ viết cho thiếu nhi và những tập tiểu luận- Tế Hanh sáng tác hơn 17 tập thơ. Với sự nghiệp thơ ca như thế và cùng quan niệm nghệ thuật có nẻo đường riêng, Tế Hanh được công chúng đánh giá là một nhà thơ lớn của thơ ca hiện đại Việt Nam. Chính ông, trong bài viết Mấy suy nghĩ về thơ ra ngày 4/9/1995, đã tâm sự: “Bây giờ tôi đã 75 tuổi, nếu tính theo chu kì từ 60 đến 80 tuổi nghĩa là trong những năm cuối thế kỉ 20, tôi cố gắng có một mùa thơ mới nữa. Nhưng đó chỉ là ước mơ, thực hiện được ước mơ ấy không phải dễ vì sự sáng tạo về nghệ thuật không phải chỉ do ý muốn chủ quan mà có được”. Suy nghĩ về thơ nhưng đó cũng là một dự báo, một nỗi niềm ao ước khó thỏa của hồn thơ nặng tình với quê hương, đất nước, với tình đời và luôn sống trong tâm trạng nhớ thương, khao khát vì cách xa…
Ao ước đầu đời có lẽ đã mãn nguyện, tập
thơ đầu tay Nghẹn ngào ( năm 1945 in
lại đổi thành Hoa niên)- của Tế Hanh
đạt giải khuyến khích (đồng hạng với nữ sĩ Anh Thơ) năm 1939 của nhóm Tự lực
văn đoàn. Năm 1940 trên báo Ngày nay,
nhà văn Nhất Linh đã khen “…Dẫu sao, ông Tế Hanh rất nhiều hứa hẹn trở nên một
thi sĩ có tài; ông có một linh hồn rất phong phú, có những rung động rất sâu
sắc và để diễn tả linh hồn, ông có đủ nghệ thuật và cách đặt câu, tìm chữ”. Năm 1941, Thi nhân Việt Nam ra đời, Tế Hanh được chọn giới thiệu bốn bài thơ
“Quê hương”, “Lời con đường quê’, “Vu vơ” và “Ao ước” cùng 165 thi phẩm của 45
nhà thơ lãng mạn đương thời khác. Và đúng như Hoài Thanh nhận xét: “Nhưng tôi
chưa muốn nói nhiều về Tế Hanh. Tế Hanh còn trẻ lắm và cũng mới bước vào làng
thơ, chưa có thể biết rõ những con đường người sẽ đi”… Song đó lại là diệu báo
của một hồn thơ luôn ao ước, luôn
chưa thỏa về tình quê, về hạnh phúc, về trách nhiệm của một công dân và đặc
biệt là về cái Tâm của người cầm bút. Từ bài thơ “Ao ước”, Tế Hanh đã tỏ rõ tấm
chân tình của một chàng trai vừa mới lớn, vừa nếm vị men say của tình yêu. Đó
là “ao ước” thoạt đầu tưởng chừng tàn nhẫn nhưng suy ngẫm, ta nhận thấy ở ý thơ
có cái thật, cái trong sáng đến vô ngần của tình yêu đầu đời, và nhất là “cái
quên mình” trong tình yêu mà chắc mấy ai đi đến tận cùng! Chính vì thế trong Việt Nam thi nhân tiền chiến, quyển hạ,
Nguyễn Tấn Long đã viết: “Khác với một Xuân Tâm hay ao ước giao tình ra ngoài
nghìn dặm ở những chân trời xa lạ, Tế Hanh tỏ lòng gắn bó với tình quê, nơi mà
ấn tượng sinh hoạt của dân làng đã in sâu vào ký ức của tác giả lúc còn trẻ”.
Chính niềm ao
ước muôn đời tạo nên một phong cách riêng trong thơ Tế Hanh. Bước qua tuổi
“hoa niên”- Cách mạng tháng Tám thành công, cuộc kháng chiến chống Pháp nổ ra,
rồi đất nước chia làm hai miền Nam- Bắc - từ một nhà thơ lãng mạn, Tế Hanh trở
thành một nhà thơ cách mạng. Nhận thức sâu sắc “nhân dân một lòng” của một nhà
thơ cách mạng, ông đã xác định: “Khi tôi nói chỗ dựa của người làm thơ là tôi
muốn nói thơ phải từ cuộc đời, từ cuộc sống. Khi nói cuộc đời, ta nghĩ nhiều
đến xã hội ta đang sống. Khi nói đến sự sống ta nghĩ nhiều đến sự phát triển
của thể xác và tâm hồn của người làm thơ” (Mấy
suy nghĩ về thơ- Tế Hanh). Do đó, đến với thơ Tế Hanh, ta luôn bắt gặp một
hồn thơ chân thật, mộc mạc đi giữa hai chốn thực tại cuộc sống và cảm thức,
rung động của nhà thơ, giữa con đường lý
tưởng và dòng sông cảm xúc. Với hồn
thơ chân thực đến trong ngần như thế, niềm ao
ước gặp gỡ, yêu thương lại trở đi trở về trong thế giới nghệ thuật thơ Tế
Hanh như một sự ám ảnh: “Ngày mai kia trong biến động liên hồi/Anh không thể
giữ cả những gì yêu quí nhất/Nhưng tình anh đối với em không thể mất/Như bao
tình yêu chân thật trên đời” (Giữa anh và
em). Vì vậy, xa cách nhớ thương là chủ đề thường trực trong thơ ông. Nhan
đề một số tập thơ như “Lòng miền Nam”
(1956), “Gửi miền Bắc” (1958), “Tiếng sóng” (1960), “Hai nửa yêu thương”
(1963), “Câu chuyện quê hương” (1973), “Con đường và dòng sông” (1980), “Vườn
xưa” (1992)…của Tế Hanh, đã gợi thức
sâu sắc điều đó.
Đọc thơ Tế Hanh, ta không chỉ bắt gặp thời gian và
không gian của tự nhiên, của hiện tại mà còn phát hiện một kiểu thời gian và
không gian của tâm trạng, của tâm tưởng. Đó là thời gian và không gian được tái
hiện qua cái nhìn của cái tôi trữ tình giàu cảm xúc, suy tư và đau đáu một niềm
ao ước được trở về “lưu luyến trên
sông” và được ngập lặn để “ôm vào” tất
cả những cảnh sắc quê hương mà tâm hồn nhà thơ neo đậu. Đặc biệt, nỗi niềm này
càng được hiện rõ trong thơ Tế Hanh qua những bài thơ tình như: “Liễu”, “Bão”,
“Vườn xưa”, “Em ở đâu?”… (trong Gửi miền
Bắc), “Không đề”, “Anh yêu em”… (trong Câu
chuyện quê hương), “Anh trong đau ốm gặp em”, “Giữa anh và em”… (trong Con đường và dòng sông), “Tặng”, “Em gần
gũi, em xa xôi”, “Văn xuôi cho em”… (trong Bài
ca sự sống)… Men tình trong thơ của Tế Hanh không nồng nàn, say đắm như thơ
Xuân Diệu, không giàu chất trí tuệ và tính triết lý như thơ Chế Lan Viên…, đọc
thơ Tế Hanh ta luôn bắt gặp một chất tình thực sự chân thành của một hồn yêu
sâu lắng man mác một nỗi niềm ao ước
vô cùng thành tâm và đáng yêu: “Chắc gì mắt em như lá liễu/Đã cắt lòng anh một
nét dao” (Liễu). Tấm chân tình trong
thơ Tế Hanh đã gợi nhắc độc giả nỗi niềm
trắc ẩn và làm lắng lại những suy tư về hạnh phúc, về ước ao chưa thỏa ở đời: “Em gần gũi, em xa xôi/Sao em như thể chân
trời trước anh/Đưa tay tưởng với được tình/Bước đi tới mãi mà tình vẫn xa” (Em gần gũi, em xa xôi).
Niềm ao ước
muôn đời đã chảy mãi trong huyết mạch, trong tâm hồn và trong thơ Tế Hanh.
Chính nó góp phần tạo nên những đặc sắc về phương diện nghệ thuật trong thơ Tế Hanh. Nhà thơ vừa phát huy tính
nghệ thuật, tính truyền cảm của các thể thơ dân tộc, vừa vận dụng một cách sáng
tạo, nhuần nhuyễn các hình thức thơ mới. Nhà thơ, từ việc luôn đổi mới đề tài sáng
tác đã có sự tung hoành về các thể thơ. Đó là việc sử dụng những từ ngữ giàu
hình ảnh, gần gũi với hồn quê, dễ hiểu “như những lời mộc mạc trong ca dao”. Đó
là giọng thơ cảm xúc, nhẹ nhàng, trong trẻo và sâu lắng. Lời thơ chân thành
luôn chứa đựng một nỗi ước ao, nguyện
cầu: “Hai ta ở hai đầu công tác/Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa” (Vườn xưa).
Đọc thơ, ta lại ngẫm đến người. Suốt một đời ao ước, không thỏa nguyện vì Tế Hanh bị
đau mắt và đã mờ khi ở tuổi ngoài bảy mươi, rồi từ tám năm trở lại đây, ông đã
nằm yên một chỗ sau cơn đột quỵ trong đêm thơ nhạc tổ chức tại Nhà hát Lớn Hà
Nội: “Nói sao hết được em ơi/Anh không thể bắt cuộc đời đứng yên/Em không thể
mãi là em/Dẫu anh còn mãi cái nhìn ngày xưa” (Cái nhìn). Và đặc biệt, sau 12 giờ ngày 16 tháng 7 năm 2009 tức
ngày 23 tháng 5 âm lịch, nhà thơ Tế Hành đã tạ thế. Nghĩ lại những ao ước thầm gửi trong thơ và trong những
lời bộc bạch của ông còn dang dở, ta vô cùng tiếc thương…Dòng sông quê vẫn
chảy, con đường làng vẫn tít tắp và “vườn xưa” còn đó… nhưng Tế Hanh đã vĩnh
viễn đi vào cõi vĩnh hằng. Xin lần nữa thắp nén hương thơm, kính dâng nhà thơ
bằng những câu thơ của chính ông: “Cơn bão tạnh lâu rồi/Hàng cây xanh thắm
lại/Nhưng em đã xa xôi/Và cơn bão lòng ta thổi mãi” (Bão).
Quảng Ngãi, tháng 7. 2012
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét